“Tìm lại” Mỹ Lai
TP – Thật ra đây là lần thứ hai trở lại Mỹ Lai (Quảng Ngãi) của Ronald Haeberle – tác giả bộ ảnh vụ thảm sát Sơn Mỹ – Mỹ Lai gây chấn động thế giới 43 năm về trước. Năm 2000, ông lặng lẽ trở về Mỹ Lai một mình trong vai vận động viên đua xe đạp. Ông bảo lần đó rất sợ, không biết người dân Mỹ Lai sẽ đối xử với mình như thế nào, dù ông chỉ là phóng viên chiến trường.
“Tìm lại” Mỹ Lai (Câu chuyện “hậu Mỹ Lai” kỳ 5)
4 kỷ vật đặc biệt
Ronald Haeberle dùng 2 chiếc máy ảnh để chụp sự kiện Mỹ Lai. Chiếc máy Leica cùng sê ri gần 40 bức ảnh đen trắng ông đã giao lại cho quân đội Mỹ theo qui định ngay sau khi trở về Mỹ từ chiến trường Việt Nam. Còn sê ri 19 bức ảnh màu nổi tiếng về Mỹ Lai sau đó được cả thế giới biết đến là chụp từ chiếc máy thứ hai hiệu Nikon-F. Trong cuộc hội ngộ đầu tiên tại Mỹ cuối tháng 8 vừa rồi, Ronald Haeberle đã trao tặng cho “cậu bé nhân chứng Mỹ Lai” Trần Văn Đức 3 bức phim âm bản trong sê ri 19 phim âm bản mà Ronald Haeberle đã trân trọng lưu giữ suốt 43 năm qua, đó là phim chụp bức hình “biểu tượng thảm sát” trên bờ lúa giữa cánh đồng Mỹ Lai, hình mẹ Đức, hình hai anh em Đức- Hà nằm ôm nhau.
Ngày 22-10, khi Ronald Haeberle từ Mỹ và Trần Văn Đức từ Cộng hòa liên bang Đức bay về, ngay đêm đầu tiên tại TP HCM, Ronald Haeberle đã bất ngờ trao tặng cho Đức chiếc máy ảnh Nikon-F. Màu sơn cũ xước, nhưng cả sợi dây đeo và chiếc nắp đậy ống kính vẫn còn nguyên. Cuộn phim màu cuối cùng Ron dùng cho chiếc máy này chính là cuộn phim ông chụp “ngày ấy Mỹ Lai”. 43 năm qua, ông không hề dùng nó chụp thêm bất cứ một bức ảnh nào, cẩn trọng cất giữ trong một chiếc túi vải màu đỏ sậm cho đến ngày hôm nay ông đem về Việt Nam tặng Đức.
Gần 1 giờ sáng, tại Quảng Ngãi, Đức lôi từ trong chiếc va li thép màu bạc ra cho tôi xem kỷ vật đặc biệt này. Đức bảo “Nhất là người đặc biệt duy nhất ngoài gia đình được nhìn thấy chiếc máy ảnh Nikon-F lịch sử”.
Chiếc va li đó đựng máy ảnh Nikon-F và 3 bức phim âm bản Ronald Haeberle tặng- 4 kỷ vật đặc biệt hầu như không rời Đức nửa bước trong suốt hành trình “đi lại” những chặng Mỹ Lai. Tại bờ lúa và thửa ruộng đẫm máu trong bức ảnh “biểu tượng đau thương Mỹ Lai”, tại nơi xác mẹ Đức nằm miệng ngậm vành nón rách, tại quãng đường Đức ôm em Hà bò đi… đến đâu Đức đều cẩn thận, nhẹ nhàng đặt va li và chắp tay khấn. Đức bảo anh muốn vong hồn các nạn nhân được một lần nhìn thấy 4 kỷ vật đặc biệt này. Tại khu mộ tập thể nạn nhân giữa cánh đồng, trong đó có mộ mẹ Đức, anh cũng đặt chiếc va li ngay ngắn trước lư hương trước khi cúi rạp mình khóc và thắp nhang cùng Ronald Haeberle.
Ronald Haeberle và Trần Văn Đức tại “con đường thảm sát” Mỹ Lai
Bức ảnh “biểu tượng” trên “con đường thảm sát”
Hành trình “tìm lại”
Thật ra đây là lần thứ hai Ronald Haeberle trở lại Mỹ Lai. Đây là lần chính thức, địa phương, dân chúng và báo chí biết. Năm 2000, Ron đã lẳng lặng trở về Mỹ Lai một mình trong vai một vận động viên đua xe đạp. Ông bảo lần đó rất sợ, ông không biết người dân Mỹ Lai sẽ đối xử như thế nào, cho dù ông chỉ là phóng viên chiến trường, những bức ảnh của ông là chứng cứ, là “ân nhân” của sự kiện Mỹ Lai. Vì thế lần đó ông chỉ lẳng lặng thắp hương tại khu chứng tích, cũng có ghi vào sổ lưu niệm tại nhà chứng tích, nhưng có lẽ không ai đọc và có đọc chắc cũng không ai hay biết đó chính là tác giả của những bức ảnh Mỹ Lai nổi tiếng.
Trở về Mỹ Lai lần này, ngoài trọng trách làm sáng tỏ sự thật cho bức ảnh chụp anh em Đức- Hà, Ronald Haeberle còn muốn “đi lại” tất cả những quãng đường mà ông đã đến, nghe và biết trong cái ngày xảy ra vụ thảm sát kinh hoàng Mỹ Lai. Vì thế, trong chiếc ba lô mang theo, ông đã chuẩn bị sẵn từ Mỹ gần 10 bản vẽ nguệch ngoạc do chính ông tự vẽ bằng ký ức trên những tờ giấy khổ A4. Tại mỗi điểm, ông đều lôi ra trải xuống đường, sát ngay mương ruộng, bờ lúa để nhắm hướng, đoán chỉnh cự ly. Nhiều lúc thấy ông rất mệt nhọc trong việc xác định hướng để xác thực chính xác địa điểm 43 năm trước mình đứng chụp từng bức ảnh. 12 giờ trưa, chiếc áo màu xanh đẫm ướt mồ hôi, tất cả ra xe chuẩn bị rời “cánh đồng thảm sát”, thì Ronald Haeberle nhìn mặt trời định hướng, xong bất ngờ rẽ vào một con đường làng bé tẹo chỉ đủ chiếc xe bò chui lọt. Chúng tôi bèn chạy theo, thì ra ông đi tìm lại vị trí đầu tiên nơi chiếc máy bay trực thăng chở ông và lính Mỹ đáp xuống, theo trí nhớ của ông thì nơi đấy có một ngôi nhà tranh, một cụ già. Cảnh bắn chết cụ già và đốt ngôi nhà này là bức ảnh đầu tiên trong sê ri ảnh đẫm máu Mỹ Lai của ông. Nhưng không tìm thấy, không xác định được. 43 năm, gần nửa thế kỷ với quá nhiều chuyển thay, nhiều nhà dân hơn, những bờ tre và cây cối trong làng cũng xanh hơn cao hơn…
Ronald Haeberle và một phụ nữ dưới chân núi Chóp Vung
27 tuổi, chàng phóng viên chiến trường chụp những xác chết Mỹ Lai chấn động địa cầu, gần nửa thế kỷ sau trở lại chính nơi đó để chụp những nấm mồ
Những bản vẽ theo ký ức của Ronald Haeberle
Ngày thứ hai, Ronald Haeberle yêu cầu với Đức và tôi đưa ông đi các điểm “Mỹ Lai khác”. Nói “Mỹ Lai khác” bởi trong thời điểm đó, trong cái ngày 16/3/1968 định mệnh đó, tại Quảng Ngãi xảy ra nhiều vụ thảm sát khác chứ không phải chỉ riêng vụ thảm sát tại làng Mỹ Lai. Nhưng các vụ thảm sát khác ông không chụp ảnh và cũng không có bức ảnh của phóng viên chiến trường nào nên dư luận ít được nghe nhắc đến. Hỏi làng Bình Tây không ai biết. Đành phải đi liều theo… ký ức của Ronald Haeberle và “cậu bé” Trần Văn Đức. Thế rồi cũng tìm được, một tấm bia tưởng niệm vụ thảm sát Bình Tây nằm chui giữa khu vườn tre của một hộ dân nghèo cạnh bờ sông. Chừng năm bảy người dân biết chuyện vây quanh chuyện trò thì đã có 2 người, một ông lão cụt chân và một bà lão cụt tay, nạn nhân sống sót của vụ thảm sát 43 năm trước.
Ronald Haeberle ghi chép khá cẩn thận. Một cơn mưa bất thần. Tôi nhường Ron chiếc dù, nhưng nó quá bé so với vóc dáng của ông. Uớt như chuột lột, nhưng Ron cởi áo vảy qua vảy lại một lát rồi yêu cầu lên xe chạy tiếp. Vòng vèo thêm hơn 10 cây số đường làng, trước mặt là biển, một bãi biển xanh đẹp còn giữ được khung cảnh khá hoang sơ. Thì ra Ronald Haeberle dẫn chúng tôi ra bãi biển Mỹ Khê. Chính nơi này ngày ấy là một điểm đáp hạ của lính đại đội Bravo do đại đội trưởng Willingham ra lệnh tàn sát 97 dân thường… 18 vụ hãm hiếp xảy ra. Vụ thảm sát của đại đội Bravo được giữ kín nhất, công luận chỉ biết được sau này do chính sự tiết lộ của người vợ Willingham do không chịu nổi áp lực hành vi tội ác của chồng. Tấm bia tưởng niệm nằm trên một triền cát sát biển. Sau khi thắp hương cùng Đức, ông lặng lẽ kéo tôi đi về phía biển. Chẳng biết để làm gì, chỉ thấy ông bảo tôi chụp cho vài kiểu ảnh và đứng lặng một mình nhìn biển động đang lùa những con sóng tràn bờ. Có lẽ ông muốn dành cho mình phút tĩnh lặng làm dịu bớt sự căng thẳng sau mấy chặng đường ký ức Mỹ Lai.
Ngày thứ ba, ông yêu cầu Đức và tôi đưa đi tìm lại một địa danh mang tên núi Chóp Vung ở vùng Đức Phổ. Từ Quảng Ngãi chạy vào nam hơn 40 km, rẽ phải gần 10 km nữa thì gặp một chòm núi. Mấy ngọn núi tựa sát nhau hình tròn như những chóp vung khổng lồ, nằm kẹp giữa 3 xã Phổ Phong, Phổ Thuận và Phổ Nhơn. Đây là một trong những điểm đóng quân đầu tiên của đại đội Charlie trước khi bay về tham gia vụ thảm sát Mỹ Lai. Ronald Haeberle ở đây và bay về trên chiếc trực thăng chụp những bức ảnh Mỹ Lai ngày ấy. Mấy quả đồi trọi, không còn tàn tích gì, chỉ duy nhất vài mảng nền nhựa đen sạm trên đỉnh núi được tìm thấy, Ronald Haeberle bảo đó là vết tích của bãi đáp trực thăng và sân đậu xe tăng của đại đội Charlie ngày ấy. Điều duy nhất khiến ông thắc mắc nghi ngại là không thấy dòng sông. Ông bảo ngày ấy từ trực thăng nhìn xuống ông thấy một dòng sông quanh chân núi, vài bức ảnh ông chụp khi đó cũng hiện rõ dòng sông này. Tôi cũng cố nhìn nhưng không thấy dòng sông nào. Phải đến khi xuống chân núi, gặp viên xã đội trưởng và tốp dân trong làng mới biết được dòng sông ấy vẫn còn, nhưng do bây giờ làng mạc cây cối vươn cao quá khuất tầm mắt nên đứng từ đỉnh núi không nhìn thấy. Lúc đó Ronald Haeberle mới vỗ tay ồ lên và chỉ về ngọn núi chúng tôi vừa trèo: Thế thì đúng rồi, đó là ngọn núi 43 năm trước tôi đóng quân và từ đây bay về Mỹ Lai.
Ron mệt, bước chân đã khập khiễng, nhưng tôi cảm được dường như Ronald Haeberle vui, hài lòng với cuộc trở về và hành trình “đi lại” Mỹ Lai lần này. 3 ngày, chưa đi hết được những điểm theo ký ức ông còn nhớ được. Thậm chí trong một bản vẽ, còn thấy ông ghi núi Hòa Vang ở Đà Nẵng.
Một chi tiết đặc biệt tôi hay thấy: Tới bất kỳ đâu, từ khu chứng tích, bia tưởng niệm, mộ nạn nhân, và nhất là những bờ ruộng đầy xác người trong vụ thảm sát thể hiện trong sê ri ảnh của ông, Ronald Haeberle đều cúi nhặt từng mẩu rác, vỏ thuốc và bao ni lông vương vãi. Dường như ông không muốn những nơi chốn này thêm một lần bị vấy bẩn, cho dù chỉ là vài cọng rác…
Có lần nào trở về Mỹ Lai nữa không? Ông không ngần ngại trả lời tôi ngay: Ồ có chứ, chắc chắn sẽ trở lại. Hôm chia tay ông trời đổ mưa lớn. Tôi bảo ông là đang giữa mùa mưa bão. Ông tựa vào thành cửa xe tôi dõi mắt về phía Mỹ Lai. Mưa phủ tối trời, không còn trông thấy những rặng tre làng Mỹ Lai nữa. Nhưng tôi tin ông không thể nào quên, như chính những ký ức đau thương mà ông nuôi giữ mãi gần nửa thế kỷ qua. Không riêng gì Ronald Haeberle và “cậu bé” Trần Văn Đức, mà với cả tôi, chuyến “đi lại” Mỹ Lai lần này để lại quá nhiều tâm trạng.
Trương Duy Nhất
_______________
(Bản đăng báo Tiền Phong)
![tro lai My Lai[11]](http://www.truongduynhat.org/wp-content/uploads/2011/10/tro-lai-My-Lai11.jpg)


[...] năm 2000, ông lặng lẽ về Mỹ Lai trong vai một vận động viên xe đạp. Lần thứ hai là chuyến trở về với mong ước cải chính bức ảnh hai đứa trẻ [...]
[...] bay sang Mỹ tìm ông. Đó là tháng 9/2011. Sau đó ông cùng Đức bay về Việt Nam và trở lại Sơn Mỹ với mong muốn cải chính bức ảnh Đức- Hà và làm sáng tỏ lại nhiều khuất [...]